Tải tài liệu học tiếng Trung miễn phí
Tải tài liệu học tiếng Nhật miễn phíLớp học tiếng Nhật ở Hà Nội

Chiết tự- Học chữ Hán theo phong cách Việt

Cập nhật: 21/09/2019
Lượt xem: 6991

Chiết tự- Học chữ Hán theo phong cách Việt


 Khi học chữ Hán, có những chữ được ghép từ nhiều bộ mà chúng ta rất khó khăn để có thể nhớ được chúng. Làm sao để nhớ lâu chữ Hán và học viết chữ Hán một cách nhanh chóng và dễ dàng? Câu trả lời chính là sử dụng phương pháp chiết tự. Phương pháp chiết tự có nghĩa là “tách chữ để nhớ chữ”. Cùng tìm hiểu phương pháp học vô cùng độc đáo này nhé!

>> Lớp học tiếng Trung tại Hà Nội <mới nhất>

>> Lớp học tiếng Trung tại TP. HCM <cập nhật>

XEM THÊM214 BỘ THỦ CHỮ HÁN VÀ Ý NGHĨA thumb image


HỌC KANJI BẰNG HÌNH ẢNH- Chiết tự và giải nghĩa>>> XEM NGAY
 

Phương pháp chiết tự

 Chim chích mà đậu cành tre
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

(Chiết tự chữ đức 德)

Hẳn các bạn mới bắt đầu học tiếng Trung ai cũng được nghe câu thơ này được truyền lại từ những người đi học trước, đây là phương pháp chiết tự chữ Hán rất thú vị của người Việt mình.

Chiết tự nảy sinh trên cơ sở nhận thức về tượng hình của chữ Hán, cách ghép các bộ thủ, cách bố trí các bộ, các phần của chữ. Trên phương diện nào đó, chiết tự chính là sự vận dụng phân tích chữ Hán một cách linh hoạt sáng tạo. Hơn thế nữa, nó không chỉ dừng lại ở hình thức phân tích chữ Hán thuần túy mà còn chuyển sang địa hạt văn chương và các trò chơi thử tài trí tuệ đầy thú vị và hấp dẫn.

 

 
Như chúng ta đã biết, ở chữ Hán luôn có sự kết hợp nổi bật của ba mặt: hình - âm - nghĩa. Và chiết tự trong những chữ Hán đã phát huy đặc điểm cấu trúc ba mặt này để tạo nên nét riêng độc đáo so với chiết tự ở những hệ thống văn tự khác. Chiết tự trong chữ Hán không chỉ chiết về mặt hình thể chữ mà còn liên hệ với cả phương diện âm và nghĩa.

Người ta còn dùng câu đố chiết tự để thử tài chữ nghĩa, thử tài suy đoán của nhau. Nhờ đó, chiết tự có điều kiện đi sâu vào trong đời sống Hán học, dần dần trở thành thói quen khi học chữ.

 

Chiết tự bằng thơ

“Cô kia đội nón chờ ai
Hay cô yên phận đứng hoài thế cô.” 
(Chữ an 安)

“Đấm một đấm, hai tay ôm quàng
Thuyền chèo trên núi, thiếp hỏi chàng chữ chi ?
- Lại đây anh nói nhỏ em nì
Ấy là chữ mật một khi rõ ràng.”


=> Thuyền chèo là dáng dấp của chữ tất 必, thuyền chèo trên núi, trên chữ sơn 山 có chữ tất 必. Ghép lại chúng ta được chữ mật 密 (bí mật, rậm rạp) (Chiết tự dựa vào hình dáng). Đấm một đấm hai tay ôm quàng là dáng dấp của bộ miên

“Hai người đứng giữa cội cây,
Ta chẳng thấy nàng, nàng chẳng thấy ta.”


Đó là hình chữ lai 來. Chữ lai 來 có hình hai chữ nhân 人 ở hai bên, chữ mộc 木 ở giữa. Thực ra hai chữ nhân 人 này vốn là tượng hình hai cái gai. Lai 來 là tên một loại lúa có gai, sau được dùng với nghĩa là đến.

“Ba xe kéo lê lên đàng, âm vang như sấm.”

Đó là chữ oanh 轟. Chữ oanh được viết với ba chữ xa 車 và có nghĩa là “tiếng động của nhiều xe cùng chạy”. (Chiết tự về mặt ý nghĩa).

"Tây quốc hữu nhân danh viết Phật,
Đông môn vô thảo bất thành “lan”.


Câu trên có thể dịch là: “Nước phương Tây có người tên là Phật”. Phật Thích Ca là người Tây Trúc (ấn Độ) so với nước ta thì ở phương Tây, chữ Phật được viết với chữ nhân 亻đứng cạnh chữ tây 西 trên chữ quốc 國. Chữ này không thấy có trong các từ điển, tự điển của Trung Quốc (như Khang Hy tự điển, Từ nguyên, Từ hải…) nhưng có mặt trong một số câu đối tại các chùa Việt Nam.
Câu dưới có nghĩa: “Cửa phía Đông không có cỏ không thành lan”. Chữ lan 蘭 (hoa lan) được viết: thảo đầu 艸 (cỏ), ở dưới là chữ lan 闌 (lan can) gồm chữ môn 門 (cánh cửa), bên trong có chữ đông 東 (phương Đông). Trong cách viết chính quy phải thay đông 東 bằng giản 柬 (Chiết tự về mặt ý nghĩa).

“Con gái mà đứng éo le,
Chồng con chưa có kè kè mang thai."


Đây là câu đố chiết tự chữ thủy 始. Chữ thủy 始 vốn là một chữ hình thanh, có chữ thai 台 chỉ âm, chữ nữ 女 (con gái) nói nghĩa.


 Có tú mà chẳng có tài,
Cầm ngang ngọn giáo, đâm ngoài đít dê.”
 (Chữ hy 羲)

“Đất thì là đất bùn ao,
Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay.
Con ai mà đứng ở đây,
Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào”
-  (Chữ hiếu 孝)

 

 
“ Một vại mà kê hai chân,
Con dao cái cuốc để gần một bên.”
 (Chữ tắc 則)

“ Nhị hình, nhất thể, tứ chi, bát đầu,
Tứ bát, nhất bát phi toàn ngưỡng lưu.”
 (Chữ tỉnh 井)

“Đóng cọc liễn leo, tả trên nhục dưới, giải bơi chèo” (Chữ tùy 隨)

“Đêm tàn nguyệt xế về Tây,
Chó sủa canh chầy, trống lại điểm tư.”
 (Chữ nhiên 然)

“Con dê ăn cỏ đầu non,
Bị lửa cháy hết không còn chút đuôi.”
 (Chữ mỹ 美)

“Thương em, anh muốn nên duyên,
Sợ e em có chữ thiên trồi đầu”
  (Chữ phu 夫)

“ Khen cho thằng nhỏ có tài,
Đầu đội cái mão đứng hoài trăm năm." 
(Chữ dũng 勇)

“Thiếp là con gái còn son,
Nếp hằng giữ vẹn ngặt con dựa kề.”
 (Chữ hảo 好)

“Ruộng kia ai cất lên cao,
Nửa vầng trăng khuyết, ba sao giữa trời.”
 (Chữ tư 思)

“ Đất cứng mà cắm sào sâu,
Con lay chẳng nổi, cha bâu đầu vào.”
 (Chữ giáo 教)

 Em là con gái đồng trinh
Chờ người tuổi Tuất gá mình vô em.”
 (Chữ uy 威)


" Đất sao khéo ở trong cung,
Ruộng thời hai mẫu, bờ chung ba bờ.”
 (Chữ cương 疆)

“ Muốn cho nhị mộc thành lâm
Trồng cây chi tử tiếng tăm lâu ngày.”
 (Chữ tự 字)

“Hột thóc, hột thóc, phẩy đuôi trê,
Thập trên nhất dưới bẻ què lê.”
  (Chữ pháp 法)

“Thế gian cũng lắm sự hài
Dưới cây(木) đốt lửa(灬)người tài ló ra!”

(Chữ: 杰 – tài,  giỏi giang)

“Tựa cây (木) mỏi mắt (目) chờ mong
Người nơi xa ấy trong lòng (心) có hay?”

(Chữ tưởng: 想)
 

Nhớ Hán tự thông qua chiết tự


 
竞 - cạnh tranh, thi đua. Chữ phồn thể là: 競: Nếu viết người ta sẽ thể hiện 1 chữ cao, 1 chữ thấp ,2 người không ngừng cạnh tranh nhau (Vd: anh cao, tôi cao…)

 –thái bình, bình yên, thản nhiên: Trên là nửa chữ Xuân, phía dưới là bộ thủy: Nước mùa xuân thể hiện sự yên bình,tốt đẹp

 - Yêu:Khi chuyển sang giản thể đã làm mất đi nhiều ý nghĩa của tình yêu. Vốn dĩ chữ phồn còn có thêm bộ tâm 愛: bắt đầu bằng tình bạn rồi đến yêu thương, cùng nhau vượt qua gian khó(bộ trảo cào vào trái tim) vì tình yêu không thể thiếu cái gọi là đau khổ. Nếu để giản thể sẽ không còn thấy chữ tâm ở giữa, chỉ có chữ Hữu, là bạn, hai người bạn rủ nhau vào trong nhà, cào cấu lẫn nhau—> tình yêu.

 
 

Tình yêu ở thời  nay có thể yêu mà không cần trái tim...
 
- Nháo, náo nhiệt: Trước cửa nhà là cái chợ–> ồn ào

- Cát: Miệng kẻ sĩ khi đã nói là phải nói ra những điều hay lẽ đẹp

 – vui vẻ  :Đằng trước là bộ nữ, phía sau là chữ 吴 – rầm rĩ(无 – không có). Nơi nào không có phụ nữ là mất vui(娱乐)。

 – gian dối:Những gì mà phụ nữ làm đều không đáng tin.

 – giả: gồm bộ nhân đứng và bộ ngụy : Những gì con người làm ra (Không thuộc về tự nhiên) đều kém chất lượng.(伪劣)

奉 – Dâng, hiến, vâng lệnh: Ba  người  cưỡi một con trâu không sừng

 - bằng, giống, như : Thân em là gái nửa chừng, không răng có miệng xin đừng đắn đo

 [ pǐ ]= Bĩ nghĩa là bế tắc, vận xấu, hỏng, chê bai. Gồm có chữ bất 不 ở trên, chữ Khẩu 口 ở dưới, là ám chỉ con người không có miệng hay nói khác đi dầu cho có miệng cũng không nói được thành lời, dẫu có nói đi nữa là phải nói theo sự đặt để của người khác.

Chữ Mang (“忙”) có nghĩa là vội, vội vàng, bận rộn. Nó được ghép bởi chữ Tâm (tâm, tim, lòng:  “心”) và chữ Vong (quên, mất: “亡”). Ngụ ý nói rằng, con người một khi mà vội vã, bận rộn thì sẽ đánh mất tâm, người vội, bận rộn thì thường thường sẽ vô tâm.

 [ Kāi ] là  khai = mở, nở hoa, mới, là hình ảnh hai tay đẩy hai cánh cửa (môn là cửa) 門 ra ngoài. Giản thể 开
 
Chính   [zhēng] nghĩa là ngay thẳng, không thiên lệch. “Bất thiên tả, bất thiên hữu, bất bạo động”. Phân tích chữ chánh 正 thấy có hai chữ Thượng 上 và Hạ 下 hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng “Thượng đội Hạ đạp”.
 
CHỦ 主 [zhǔ] Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (tượng chữ vương 王 4 nét). Chữ Chủ 主 sẽ thấy trước tiên là ba vạch liền ☰  tượng trưng cho Tam tài, trên trời, dưới đất, giữa là người. Thêm một nét sổ thẳng qua thành ra chữ Vương 王 . Đặt phía trên một nét chủ.
 
 Gia  tại sao chữ thỉ (con heo) lại đặt dưới bộ miên là mái nhà? Bởi người xưa thấy trong gia đình có bàn tay người nữ phái là cần kiệm, chu đáo, lo lắng dành dụm, nuôi vài con heo, xem như bỏ ống để khi chi dụng bán ra có thêm tiền. có câu: Đàn bà thì phải nuôi heo, Thời vận còn nghèo nuôi chửa được trâu.
 
Đạo 道 [dào] bắt đầu chấm hai chấm là Âm Dương nhị khí, kế dưới một nét ngang tức là Âm Dương hợp lại, dưới chữ tự 自 (6 nét) nghĩa là tự nhiên mà có, con người cần phải tự lập, tự tri, tự giác. Trên dưới ráp lại thành chữ thủ 首 (9 nét). Chữ thủ nghĩa là ban sơ, lúc ban đầu, khởi thuỷ. Kế là bộ Sước 辶(3 nét) nghĩa là chạy, “pháp luân thường chuyển”. Nghĩa: nói, con đường, nghề, tôn giáo

 


 
 
Đông 東 [dōng] có hai phần: chữ nhật 日 ở giữa, bộ mộc 木 xuyên qua chữ nhật, có nghĩa là mặt trời khi vừa nhô lên khỏi ngọn cây. Giản thể 东

Cùng Kokono  đọc và suy ngẫm bài thơ chiết tự Hán Việt : Thu Nhàn

 
Thu 秋đến ươm Sầu 愁ướp đượm tâm 心
Mục 目 pha thảo 艹 tịch 夕 Mộng 夢duyên ngầm
Kiến 見Vương 王 chợt Hiện 现 lời ca hát
Kim 今 Khẩu 口 như lừng khúc nhạc Ngâm
Nhân 亻ghép Sơn 山 Tiên 仙 màu ảo diệu
Môn 門 giăng Nhàn 閒 Nguyệt 月 sắc thâm trầm
Điền 田 thêm lực 力 mạnh ra nam 男 tử
Nhẫn 忍 bỏ Đao 刀 rồi khoan thứ Tâm心
 
Chú thích: Dòng 1 bộ Thu và bộ Tâm ghép lại thành chữ Sầu
Dòng 2 bộ Mục và Thảo + Tịch ghép lại thành chữ Mộng
Dòng 3 bộ Kiến và bộ Vương ghép lại thành chữ Hiện
Dòng 4 bộ Khẩu và Kim ghép lại thành chữ Ngâm
Dòng 5 bộ Nhân và bộ Sơn ghép lại thành chữ Tiên
Dòng 6 bộ Môn và bộ Nguyệt ghép lại thành chữ Nhàn
Dòng 7 bộ Điền và bộ Lực ghép lại thành chữ Nam
Dòng 8 bộ Đao và bộ Tâm ghép lại thành chữ Nhẫn
 
Từ những ví dụ trên, chúng ta thấy, chiết tự chính là sự vận dụng phân tích chữ một cách linh hoạt và sáng tạo theo một tư duy logic nhất định. Tư duy logic này sẽ giúp chúng ta nhớ chữ lâu hơn. Chữ Hán là lễ vật tốt nhất mà Thượng Thiên truyền cấp cho dân tộc Trung Hoa. Diễn biến lịch sử phát triển của nó vô cùng độc đáo và đặc biệt thú vị. Nhìn hiểu chữ Hán, có thể hiểu được đạo lý nhân sinh. Chúc các bạn hiểu được chữ Hán qua Phương pháp chiết tự theo phong cách Việt.


Máy lạnh âm trần Casper CC-28TL11- Máy lạnh Casper - Máy lạnh Ánh Sao - 220671 KHÓA HỌC TIẾNG TRUNG ƯU ĐÃI CỰC SỐC >> XEM NGAYMáy lạnh âm trần Casper CC-28TL11- Máy lạnh Casper - Máy lạnh Ánh Sao - 220671
 
 Cùng Download tài liệu học Tiếng Nhật miễn phí tại Kokono!
  • Khách hàng 1
  • Công ty Honda
  • Khách hàng 12
  • Trường Waseda Keifuku
  • Khách hàng 2
  • Khách hàng 4
  • Khách hàng 5
  • Khách hàng 6